Sáng ngày 23/12/2025, Bộ GDĐT đã tổ chức tập huấn nâng cao năng lực đối với cán bộ quản lý (CBQL), giáo viên (GV) triển khai thực hiện nhiệm vụ bảo đảm chất lượng phù hợp đối với trường phổ thông dân tộc nội trú ( PTDTNT) trên quy mô cả nước dưới hình thức trực tiếp tại tỉnh Đắk Lắk. Tham dự có đại diện lãnh đạo Bộ GDĐT, Cục Quản lý chất lượng giáo dục (QLCLGD), các Cục, Vụ liên quan, 10 chuyên gia thuộc 10 trường Đại học trên cả nước và 31 tỉnh, thành có trường PTDTNT với sự tham gia của 316 trường PTDTNT và 420 đại biểu là đại diện lãnh đạo và chuyên viên các phòng chuyên môn có liên quan thuộc Sở GDĐT và đại diện cho 6943 CBQL, GV đang công tác tại các trường PTDTNT. Tỉnh Bắc Ninh có 11 đại biểu của 05 trường PTDTNT tham dự.
Tại Hội nghị, Đại diện lãnh đạo Cục QLCLGD, Bộ GDĐT - PGS, Tiến sĩ, Phó Cục trưởng Phạm Quốc Khánh phát biểu khái quát lịch sử, tên gọi, vai trò của trường PTDTNT. Năm 2025 là tròn 40 năm có thuật ngữ trường PTDTNT, tròn 25 năm (từ năm 2005) thực hiện bảo đảm chất lượng trong trường PTDTNT. Nghị quyết 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá, phát triển giáo dục đào tạo, có một thông điệp rất quan trọng: giáo dục Việt Nam quyết định tương lai dân tộc, đất nước. Trong bối cảnh toàn ngành đang triển khai mạnh mẽ đổi mới giáo dục, trong đó có 3 mục tiêu rất rõ “ giáo dục công bằng, giáo dục bao trùm và giáo dục chất lượng” vào năm 2030. Trên cơ sở chuẩn chung quốc gia và đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước, các nhà trường cần phát huy sự đa dạng, đặc sắc, vượt trội của các vùng miền, các dân tộc. Công tác bảo đảm chất lượng không còn là nhiệm vụ ở các nhà QLGD mà còn là của tất cả các thầy cô giáo, các nhà trường. Nhiệm vụ đó tập trung vào giáo dục tri thức khoa học, chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý an toàn, đổi mới giáo dục đặc thù, giáo dục bản sắc văn hoá và hướng nghiệp, nâng cao chất lượng đội ngũ, thực hiện kiểm định chất lượng, chuyển đổi số và xây dựng trường chuẩn quốc gia.
PGS, Tiến sĩ, Phó Cục trưởng Cục QLCL, Bộ GDĐT Phạm Quốc Khánh phát biểu tại Hội nghị
Tại Hội nghị, các chuyên gia giáo dục cũng nhấn mạnh: trường PTDTNT là loại hình trường đặc biệt, là một phần quan trọng trong hệ thống giáo dục dân tộc giữ vai trò hiện thực hoá chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước góp phần thực hiện công bằng xã hội trong xã hội trong giáo dục; có sứ mệnh kép vừa đảm bảo chất lượng giáo dục đại trà vừa tạo nguồn cán bộ, bồi dưỡng nhân tài cho vùng dân tộc thiểu số và miền núi; có vai trò gìn giữ, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, hoàn thiện nhân cách học sinh thông qua việc lồng ghép vào trong các hoạt động giáo dục. Vì vậy sứ mệnh, vai trò của trường PTDTNT và công tác đảm bảo chất lượng giáo dục trở thành yếu tố then chốt cho sự phát triển trong bối cảnh nhân loại bước vào nền kinh tế trí thức và kỷ nguyên số. Đảm bảo chất lượng không chỉ dừng lại trong tổ chức dạy học và kiểm tra đánh giá nhằm phát triển phẩm chất năng lực học sinh PTDTNT mà còn là bản sắc, bảo tồn văn hoá, là đạt chuẩn về điều kiện cơ sở vật chất, đội ngũ, điều kiện sinh hoạt, đời sống tinh thần cho học sinh PTDTNT.
Giờ chào cờ đầu tuần của học sinh trường PTDTNT Yên Thế
Giờ học đàn tính – nhạc cụ dân tộc truyền thống của đồng bào Tày, Nùng
Trong các năm học, phòng QLCLGD, Sở GDĐT tỉnh Bắc Ninh quan tâm và phối hợp triển khai thực hiện nhiệm vụ trong Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025 của Bộ GDĐT. Tại các trường học trong toàn tỉnh, học sinh của 36 dân tộc đang theo học ở các cấp học là 71.530 em (Mầm non 18.318; Tiểu học 29.495; THCS 14.313; PTDTNT 1.646; THPT và GDTX 7.758). Trong đó số học sinh là người dân tộc nhiều nhất là Nùng, Tày, Sán Dìu; số học sinh là người dân tộc rất ít người chiếm số lượng rất ít như Hà Nhì, Mạ, Kháng, M’nông, Pà Thẻn.
Hoạt động ngoài giờ lên lớp trong trường PTDTNT Sơn Động
Hoạt động trải nghiệm làm bánh của học sinh trường PTDTNT Sơn Động
Tính đến thời điểm hiện tại, tỉnh Bắc Ninh hiện có 05 trường PTDTNT với tổng số 1.767 học sinh, trong đó có 121 học sinh là người dân tộc Kinh, 1.646 học sinh là người dân tộc thiểu số (có 02 học sinh là người dân tộc rất ít người - dân tộc Pà Thẻn). Với tỷ lệ học sinh dân tộc thiểu số chiếm tới 93,15%, các nhà trường bên cạnh việc thực hiện dạy học theo chương trình Giáo dục phổ thông 2018 đã coi việc thực hiện nghiêm túc các chính sách dân tộc là nhiệm vụ trọng tâm để duy trì sĩ số và nâng cao chất lượng giáo dục, cụ thể là:
Chế độ hỗ trợ chi phí học tập: Hằng năm, các nhà trường đã rà soát, lập danh sách và chi trả kịp thời các khoản hỗ trợ theo Nghị định 66/2025/NĐ-CP và các văn bản hướng dẫn hiện hành, đảm bảo 100% học sinh thuộc đối tượng thụ hưởng nhận được hỗ trợ.
Chế độ hỗ trợ gạo và tiền ăn: Triển khai nghiêm túc chính sách hỗ trợ học sinh (theo Nghị định 66/2025/NĐ-CP). Việc cấp phát gạo được thực hiện công khai, đúng đối tượng và định kỳ.
Hoạt động cấp phát gạo định kỳ trong trường PTDTNT Sơn Động
Bảo hiểm y tế và chăm sóc sức khỏe: Phối hợp với cơ quan bảo hiểm và y tế địa phương cấp thẻ BHYT miễn phí cho học sinh dân tộc thiểu số, tổ chức khám sức khỏe định kỳ và truyền thông về vệ sinh học đường, phòng chống dịch bệnh.
Giữ gìn bản sắc văn hóa: Lồng ghép các nội dung giáo dục văn hóa truyền thống của dân tộc Nùng, Tày, Sán Chay... vào các tiết học ngoại khóa, hoạt động trải nghiệm nhằm giúp học sinh tự hào và giữ gìn bản sắc dân tộc mình.
Một giờ học Ngoại ngữ của học sinh trường PTDTNT Yên Thế
Dù đã có nhiều nỗ lực và nhận được sự quan tâm của các cấp, tuy nhiên với đặc thù số lượng học sinh dân tộc thiểu số quá lớn, các trường PTDTNT vẫn đối mặt với nhiều khó khăn thách thức:
(1) Khó khăn về điều kiện kinh tế và địa lý Khoảng cách di chuyển: Nhiều học sinh ở các bản làng xa xôi, giao thông đi lại khó khăn, đặc biệt là trong mùa mưa bão, ảnh hưởng trực tiếp đến việc chuyên cần và an toàn của học sinh trong những đợt học sinh nghỉ phép. Hoàn cảnh gia đình: Đa số phụ huynh là nông dân, thuộc hộ nghèo hoặc cận nghèo. Nhiều bố mẹ phải đi làm ăn xa tại các khu công nghiệp, thiếu sự sát sao, nhắc nhở học tập và quan tâm tâm sinh lý lứa tuổi.
(2) Các điều kiện phục vụ công tác nuôi dưỡng, giáo dục
Khu nội trú: Cơ sở vật chất như nhà bếp, diện tích sân chơi, tập luyện còn một số hạng mục chưa đáp ứng được so với yêu cầu chuẩn.
Đội ngũ: Thiếu giáo viên chuyên trách được đào tạo về hoạt động trải nghiệm hướng nghiệp, giáo dục dân tộc, giáo dục kỹ năng sống, tổ chức hoạt động của đoàn thanh niên.
Học liệu: Thiếu những tài liệu liên quan đến nội dung tích hợp giáo dục dân tộc trong các trường PTDTNT.
(3) Chất lượng giáo dục ở vùng DTTS và miền núi còn thấp so với yêu cầu phát triển; còn khó khăn về rào cản ngôn ngữ và văn hoá, năng lực ứng dụng CNTT của đội ngũ.
Trước những thách thức đó, các trường PTDTNT cần có những giải pháp quản lý nội trú, bán trú tại trường PTDTNT: (1) Nâng cao nhận thức của CBQL, GV về công tác quản lý nội trú, bán trú; (2) Phát triển cán bộ quản sinh chuyên nghiệp thực hiện công tác nội trú, bán trú; (3) Đồng bộ hoá quản lý sinh hoạt trong công tác nội trú, bán trú; (4) Phát triển đội ngũ hỗ trợ tâm lý cho học sinh trong công tác nội trú, bán trú; (5) Xây dựng kế hoạch phối hợp với phụ huynh và địa phương hiệu quả; (6) Thúc đẩy, xây dựng cơ sở vật chất đảm bảo công tác quản lý nội trú, bán trú cho học sinh trường PTDTNT; (7) Thúc đẩy các hoạt động giáo dục giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc trong công tác nội trú, bán trú.
Hội thi cấp trường môn cờ vua trường PTDTNT Lục Nam
Khám sức khoẻ định kỳ cho học sinh trường PTDTNT Lục Nam
Trong giai đoạn 2026-2030, ngành giáo dục nỗ lực thực hiện mục tiêu, yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục công bằng, tập trung củng cố và phát huy kết quả đã đạt được, ưu tiên nâng cao hiệu quả giám sát, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, huy động hiệu quả nguồn lực và phát triển năng lực đội ngũ, các điều kiện bảo đảm chất lượng giáo dục. Với sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và sự đồng thuận của toàn xã hội, công tác bảo đảm CLGD trong các nhà trường nói chung và bảo đảm CLGD trong trường PTDTNT nói riêng sẽ tiếp tục phát triển bền vững, góp phần nâng cao thực chất chất lượng dạy học và bảo đảm công bằng trong tiếp cận giáo dục.